Trương nương tử là con gái của Chu ma ma.
Bà được bán làm con nuôi từ nhỏ, gả vào nhà họ Trương. Không ai nhớ tên thật của bà nữa, hàng xóm chỉ gọi là “Trương nương tử”.
Trương nương tử lớn tuổi hơn chúng ta, tóc đã điểm bạc, giữa mày thấp thoáng nét giống Chu ma ma.
Nữ lang hỏi bà muốn điều gì.
Thiên tử đã hứa, lời nói ra tất phải thực hiện.
Ta vừa lo Trương nương tử không hiểu nặng nhẹ của lời hứa ấy, lại sợ bà tùy tiện mở miệng khiến bệ hạ khó xử.
Nếu bà không cầu gì cả, lẽ nào con cháu đời sau cũng phải vô danh vô phận?
Nếu điều bà cầu quá lớn, lẽ nào bệ hạ phải vượt qua bao công thần lão thần để ban thưởng cho bà?
Trương nương tử trầm ngâm rất lâu rồi nói:
— Dân phụ không dám mong cầu gì. Mẫu thân có thể hầu hạ bệ hạ một đời, đã là phúc phận của bà. Dân phụ từ nhỏ bị bán đi, vốn không nên hưởng công lao của mẫu thân.
Nữ lang hỏi:
— Nếu trẫm nhất định muốn ban thưởng cho ngươi thì sao?
Trương nương tử cúi đầu thật sâu:
— Dân phụ chỉ cầu bệ hạ cho con trai nhỏ một cơ hội tham gia khoa cử.
Nữ lang hỏi:
— Chỉ vậy thôi?
— Vâng. Nhà chồng dân phụ thuộc hộ tịch thợ thủ công, đời đời làm thợ. Nhưng tiểu nhi ham đọc sách, có chí lớn, vì thân phận thợ thủ công nên không được dự thi. Xin bệ hạ khai ân, cho phép nó được tham gia khoa cử.
Nữ lang im lặng hồi lâu rồi nói:
— Chuẩn!
Ta thấy lời nói của Trương nương tử không giống một phụ nhân bình thường. Nghĩ bà xuất thân nghèo khó, chồng lại là thợ thủ công, sao có thể có kiến thức như vậy?
Trương nương tử lại cười:
— Trước đây dân phụ cũng chỉ là người đàn bà chanh chua, vì gia cảnh nghèo khó nên thường tranh giành từng đồng từng cắc. Nay nhờ ơn bệ hạ, gia đình làm ăn khấm khá, cuộc sống dần tốt lên. Hằng ngày nghe con trai đọc sách, nghe nó giảng giải, bất giác cũng hiểu ra nhiều điều, không còn như trước nữa.
Ta đưa bà về nhà.
Nữ lang ban thưởng vàng bạc lụa là.
Mấy tỷ muội chúng ta cũng góp thêm không ít, coi như báo đáp ân tình của Chu ma ma.
Trong thời gian ấy, ta lấy thân phận nữ quan ngự tiền giúp đỡ đôi chút, tránh cho kẻ xấu nổi lòng tham.
Nhà họ Trương nhờ vậy mà phát đạt, trở thành vọng tộc một phương.
Sau đó, nữ lang cải cách hộ tịch thợ thủ công, cho phép con cháu được đọc sách, tham gia khoa cử.
Ba năm sau nữa, nàng bãi bỏ hộ tịch thợ thủ công, cho phép họ tự do chuyển nghề, không còn cha truyền con nối bắt buộc. Triều đình còn thường xuyên tuyển dụng thợ giỏi, cấp thêm tiền trợ dưỡng.
Thợ thủ công trong thiên hạ ai nấy đều cảm kích ân đức của nàng.
Sức khỏe của nữ lang bắt đầu suy yếu.
Cuộc đời nàng thật chẳng tầm thường.
Thuở trẻ chinh chiến sa trường.
Sau đó chấp chính triều đình.
Trở về kinh thành lại xử lý vô số chính vụ.
Nàng vốn không biết giữ gìn thân thể, thích rượu mạnh trà đặc, ăn thịt cá săn bắn, vừa luyện võ vừa đi săn.
Lúc trẻ còn chịu nổi.
Nay tuổi tác đã cao, hao tổn tích lũy bao năm cuối cùng cũng bộc lộ.
Ta không cho nàng uống trà đặc và rượu mạnh nữa.
Lại sắc thuốc, làm thuốc bổ, thậm chí bỏ cả dược liệu vào hương lò.
Nhưng vẫn không chống nổi những cơn đau nhức khi trời mưa lạnh, cùng những trận ho kéo dài giữa đêm khuya.
Các đại thần sau khi nghị sự xong bước ra khỏi điện, đôi khi mắt còn đỏ hoe.
Thời gian còn vô tình hơn cả đế vương.
Vị minh quân thánh đức nhất thế gian, cùng những trung thần trung trực nhất thiên hạ, tạo dựng nên một thời thịnh trị huy hoàng, cuối cùng cũng không đổi được lấy nửa phần thương xót của năm tháng.
Ta hận mái tóc bạc.
Hận đêm dài.
Hận những ngày mưa.
Ta muốn trong cung không xuất hiện cành khô lá úa.
Muốn trong cung không có ngọn nến nào cháy tàn.
Nhưng ta không thắng nổi thời gian.
Cũng không giữ được bước chân của nữ lang.
Ta nên thấy may mắn.
Bởi từ lúc sinh ra đến khi chết đi, nữ lang chưa từng có lấy một ngày tầm thường.
Bao đế vương trong sử sách, dù hùng tài đại lược đến đâu, trước lúc băng hà cũng khó tránh khỏi sai lầm, để lại vài nét mực xấu trong cuộc đời.
Nhưng nữ lang vẫn bình thản.
Nàng dạy dỗ Mạnh Từ trở thành một vị quân vương tốt.
Để lại cho nàng ấy một triều đại thanh minh, quốc khố dồi dào cùng những trung thần tận tụy.
Nàng ngồi trong điện, khoác áo lông cáo dày.
Bên ngoài tuyết rơi lất phất.
Bên trong ấm áp như mùa xuân.
Nàng chậm rãi dặn dò mọi việc.
Ta quay lưng ngồi trên bậc cửa, nước mắt thấm ướt từng hoa văn trên nền gạch.
Dặn dò xong quốc sự, nàng bảo các đại thần lui ra.
Nhưng không ai chịu đi.
Không ai muốn đi.
Cũng chẳng ai dám quay lưng bước khỏi nơi này.
Bởi một khi quay người, họ sẽ không còn được nhìn thấy quân chủ của mình nữa.
Nữ lang bật cười:
— Đừng làm ra vẻ mặt ấy. Năm nay tuyết lành báo hiệu năm sau được mùa. Nếu đến mùa màng tốt, chúng ta cùng đi săn. Nếu săn được hổ già, mới thật là chuyện đáng mừng.
Nàng lại nói:
— Chư vị, mùa săn thu năm nay đừng bắt ta đi nữa. Mùa đông cũng nên để ta vận động gân cốt chút chứ!
Mọi người lúc này mới thở phào, lần lượt đi chuẩn bị.
Đế vương xuất hành thật là chuyện phiền phức.
Phải có nghi trượng.
Phải có thị vệ.
Phải dọn đường.
Phải phong tỏa bãi săn.
Năm nay không cho thả mãnh thú vào bãi săn nữa, nhưng cũng phải thả ít thú thường vào.
Còn phải trấn an dân chúng, không để việc săn bắn của đế vương ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
Mạnh Từ tới thỉnh an, hỏi ta:
— A Man cô cô, cô cô ngủ chưa? Ta có việc muốn bẩm báo.
Ta đáp:
— Mau vào đi.
Trong điện vang lên tiếng gọi đầy kinh ngạc.
Rồi tiếng gọi ấy hóa thành tiếng nước triều dâng.
Hóa thành tiếng chuông.
Hóa thành những bóng người vội vã va chạm, chạy ngược xuôi.
Giữa trời tuyết bay mịt mù.
Đó là một trận tuyết đẹp.
Mọi vinh quang trong cuộc đời nữ lang cũng bắt đầu từ một trận tuyết đẹp như thế.